Nguyễn Văn Hưởng » Biển đảo » Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam: Không loại trừ khả năng kiện Trung Quốc

(Biển đảo) - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Hoài Trung nói rằng trong nhiều biện pháp để giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông, Việt Nam không loại trừ khả năng tiến hành các hành động pháp lý‎, theo Reuters.

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 11, diễn ra hôm 6/11 tại Hà Nội

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 11, diễn ra hôm 6/11 tại Hà Nội

Nhận định này được ông Trung đưa ra trong phát biểu tại phiên khai mạc Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 11, diễn ra hôm 6/11 tại Hà Nội. Hội thảo năm nay có chủ đề “Hợp tác vì An ninh và Phát triển tại Khu vực”, do Học viện Ngoại giao phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam (VLA) và Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông (FESS) tổ chức, với sự tham dự của hơn 250 đại biểu là quan chức, nhà khoa học.

Ông Lê Hoài Trung cũng nói rằng, hợp tác trên biển, trong đó có Biển Đông “cần có lòng tin vào môi trường luật pháp quốc tế, vào các cơ chế và thể chế chung.”

Theo ông Trung, trong xu thế hướng ra đại dương, tăng cường hợp tác biển và đại dương toàn thế giới, các nước không khỏi lo ngại trước các thách thức nổi lên đối với hoà bình và ổn định ở Biển Đông, trong đó có các hoạt động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế ở vùng biển của Việt Nam.

“Việc đơn phương diễn giải luật quốc tế trái với chuẩn mực chung và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, làm giảm lòng tin vào luật pháp quốc tế, làm xói mòn thượng tôn pháp luật. Việc này có thể trở thành tiền lệ nguy hiểm đe doạ hoà bình, ổn định hoà bình, an ninh ở khu vực và quốc tế,” ông Trung nói.

Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung

Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung

Theo Reuters, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung nói rằng, Việt Nam thích đàm phán nhưng nếu đàm phán không mang lại kết quả, thì Việt Nam bắt buộc phải cân nhắc “những sự lựa chọn khác”.

Thứ trưởng Lê Hoài Trung liệt kê các giải pháp chọn lựa của Việt Nam: “Chúng tôi biết rằng, các biện pháp này bao gồm tìm kiếm sự thật, trung gian hòa giải, đàm phán, trọng tài và kiện tụng. Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước về luật biển của Liên Hiệp quốc 1982 (UNCLOS 1982) có đủ các cơ chế cho chúng tôi áp dụng những biện pháp này,” ông Trung nói.

Hội thảo với sự tham dự của hơn 250 đại biểu là quan chức, nhà khoa học.

Hội thảo với sự tham dự của hơn 250 đại biểu là quan chức, nhà khoa học.

Theo Thứ trưởng, các bài học kinh nghiệm khác có thể áp dụng ở Biển Đông là các quốc gia cần có ý chí chính trị thúc đẩy hợp tác vì lợi ích chung, đặc biệt là trong các vấn đề bảo đảm hoà bình; các nước cần có cách hiểu thống nhất về luật biển quốc tế, như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS).

Trung Quốc đã ngang ngược tuyên bố chủ quyền phần lớn diện tích biển Đông với đường đứt khúc 9 đoạn. Nước này đã thiết lập các tiền đồn quân sự trên các đảo nhân tạo. Tuy nhiên, Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines, Đài Loan đều có tuyên bố chủ quyền một phần ở các khu vực thuộc vùng biển này.

Năm 2013, Philippines từng kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Thường trực ở The Hague. Phán quyết của tòa vào năm 2016 đã bác bỏ yêu sách của Trung Quốc.

Hồi năm 2014, cựu Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng từng cho biết là, Chính phủ Việt Nam đang xem xét những phương án phòng vệ đối với Trung Quốc, trong đó có cả việc kiện ra tòa, sau vụ Trung Quốc dịch chuyển trái phép dàn khoan vào vùng lãnh hải của Việt Nam trên Biển Đông.

Còn năm nay, căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc lại gia tăng sau khi tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc đã ngang nhiên tiến hành khảo sát địa chấn trái phép kéo dài một tháng trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ).

Trong lần xâm phạm mới này của tàu khảo sát Trung Quốc, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần cáo buộc tàu khảo sát này và các tàu hộ tống vi phạm chủ quyền của Việt Nam và yêu cầu các tàu Trung Quốc ngay lập tức rời khỏi khu vực trên.

Là đây là lần đầu tiên Việt Nam đề cập công khai đến khả năng tiến hành các hành động pháp lý như biện pháp phòng vệ sau vụ việc liên quan tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc .

Tại kỳ họp Quốc hội Việt Nam khóa XIV lần thứ 8 đang diễn ra tại Hà Nội, hôm 31/10, đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu cũng cho rằng, cần đưa Trung Quốc ra tòa quốc tế liên quan tới việc nước này xâm phạm bãi Tư Chính của Việt Nam và nhiều hoạt động xâm phạm chủ quyền khác.

Ông Bill Hayton, chuyên gia về biển Đông tại Viện hoàng gia về Các vấn đề quốc tế Chatham House, cho biết đây có lẽ là lựa chọn duy nhất còn lại với Việt Nam, theo Reuters. Ông Hayton cũng nói thêm rằng, toàn bộ Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 11 này dường như tập trung quanh câu hỏi đó.

Ông Bill Hayton

Ông Bill Hayton

Trong 50 diễn giả tham dự Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông năm nay, có cả một số chuyên gia pháp lý liên quan đến vụ Philippines kiện Trung Quốc, gồm cựu thẩm phán Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) Rudiger Wolfrum.

Giáo sư luật Tạ Văn Tài của Đại học Harvard lưu ý rằng muốn có cơ may thắng kiện, trước hết cần thấu đáo các khía cạnh pháp lý của vấn đề. Ông nói trong các cuộc bàn luận ở trong nước cũng như trên internet, ít ai phân biệt rõ rệt được kiện về vùng nước với kiện về đảo đá nó khác nhau như thế nào, một mặt là kiện về đất đai, chủ quyền lãnh thổ, mặt khác là kiện về vùng biển, và tùy trường hợp nào, luật được áp dụng và Tòa có thẩm quyền xử cũng khác đi. Giáo sư Tạ Văn Tài giải thích rõ hơn khía cạnh pháp lý của điểm khác biệt này.

“Nếu mà nói kiện về Hoàng Sa với đảo Gạc Ma thì nó thuộc về chủ quyền lãnh thổ thì nó theo một quy chế khác hẳn, không phải là luật biển quốc tế nữa mà là luật quốc tế cổ truyền từ 400 năm nay về chiếm hữu, quản lý đất đai để mà xác lập chủ quyền của mình. Luật quốc tế cổ truyền thì do tòa án International Court of Justice ở La Haye- tức Tòa án Công lý quốc tế ở The Hague, có thẩm quyền, chứ không phải tòa án luật biển.”

Tòa Luật Biển năm 2016 phán rằng các đảo đá ở quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc nhận là của mình, không phải là đảo, và do đó không có EEZ và thềm lục địa, mà đó là lập luận của Trung Quốc để đưa ra yêu sách chủ quyền trùng lấp với EEZ và thềm lục địa của Việt Nam.

Giáo sư Tạ Văn Tài nói trước khi khởi kiện, Việt Nam phải khẳng định rõ ràng mục đích vụ kiện, phải minh định rõ chủ quyền mà Việt Nam muốn bảo lưu là “quyền về dầu khí nằm trong thềm lục địa nới rộng 350 hải lý ở khu vực phía Nam Biển Đông”- mà Việt Nam đã lập hồ sơ và đăng ký hợp lệ” từ nhiều năm trước.

Việt Nam và Malaysia đã gửi hồ sơ đăng ký riêng và chung hồi đầu tháng Năm 2009, trước thời hạn mà LHQ đặt ra.

Giáo sư Tạ Văn Tài

Giáo sư Tạ Văn Tài

Theo Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý tính từ đường cơ sở của nước đó. UNCLOS quy định thêm rằng nếu thềm lục địa của nước ven biển kéo dài ra xa hơn 200 hải lý thì nước đó có đặc quyền khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong một vùng bên ngoài 200 hải lý gọi là thềm lục địa mở rộng.

Giáo sư Tạ Văn Tài khẳng định rằng trong tư cách là một nước cận duyên, Việt Nam có quyền chuyên độc (exclusive rights), chống mọi sự xâm phạm của các nước khác. Ông khuyên Việt Nam nên áp dụng luật nội dung về quyền chủ quyền cho đúng.

Theo ông thì lần này, nếu kiện đúng lúc theo luật tố tụng quốc tế thì bên cạnh chủ quyền về thềm lục địa, Việt Nam nên kiện luôn cả các quyền ở vùng dặc quyền kinh tế (EEZ), gồm quyền giữ môi sinh biển như bảo tồn san hô, quyền của dân chài được mưu sinh bằng nghề đánh cá, tàu bè không bị tấn công, đâm chìm, và không phải tuân lệnh cấm đánh cá mà Trung Quốc đơn phương ban hành hàng năm. Giáo sư Tài nói đây là một vụ tố tụng hết sức phức tạp, không có gì bảo đảm sẽ đi đến thắng lợi dễ dàng, tuy vậy điều phải làm ngay bây giờ, theo ông, là cấp tốc chuẩn bị để khi thời cơ đến, thì đã có hồ sơ sẵn sàng.

Giáo sư Tạ Văn Tài nói điều thuận lợi là đã có bản án năm 2016 của Tòa án trọng tài quốc tế trao phần thắng cho Philippines làm tiền lệ, thì không có lý do gì Việt Nam không có cơ may ít ra là ngang hàng vớ Philippines để có thể thắng kiện.

Hợp tác ASEAN để giải quyết thách thức biển

Bài phát biểu trên của ông Trung, đề cập đến việc Việt Nam vừa đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm 2020, ông Trung nói rằng, Việt Nam hy vọng sẽ cùng các đối tác thúc đẩy hiệu quả hợp tác các cơ chế của ASEAN để giải quyết các thách thức biển.

“Việt Nam tin tưởng rằng duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông không chỉ là lợi ích mà còn là trách nhiệm của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế,” ông Trung được nói.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Phương, chuyên gia nghiên cứu cộng tác Trung tâm Nghiên cứu quốc tế thuộc Trường Đại học KHXH&NV, cho rằng, việc Việt Nam trở thành Chủ tịch ASEAN vào năm sau sẽ giúp thúc đẩy giải quyết một số vấn đề tồn tại ở Biển Đông. Tuy nhiên hiệu quả tới đâu thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Cụ thể, ông Phương nhìn nhận rằng, Việt Nam sẽ đẩy vấn đề Biển Đông trở thành ưu tiên nghị sự trong các cuộc họp ASEAN, cũng như giữa ASEAN với các nước đối tác.

Đây là lợi thế của việc làm chủ tịch.

Đồng thời, Việt Nam có thể đưa các phát ngôn lên án Trung Quốc vào tuyên bố chung, đẩy mạnh giải quyết các bất đồng trong đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC), và chủ động đưa ra những biện pháp giúp kết nối phản ứng của ASEAN cũng như các đối tác trước hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo ông Phương, về mặt đối ngoại đa phương, Việt Nam luôn coi ASEAN tổ chức đa phương quan trọng nhất trong việc đảm bảo duy trì hoà bình và ổn định ở khu vực, và trong việc cân bằng giữa các nước lớn, cụ thể là với Trung Quốc và Mỹ.

Tình hình Biển Đông, nếu thiếu tiếng nói của ASEAN, sẽ không thể giải quyết được một cách căn cơ, vì dù gì các tranh chấp ở Biển Đông cũng có yếu tố đa phương.

“Khả năng của Việt Nam trong việc dẫn dắt ASEAN tốt tới mức nào sẽ được thể hiện qua năm Việt Nam làm chủ tịch. Bản thân tôi hy vọng rằng, Việt Nam sẽ nắm lấy các cơ hội để trở thành một trong những nước đầu tàu ASEAN trong một số vấn đề. Điều này Việt Nam có thể làm được, thứ quyết định là quyết tâm chính trị. Nói cách khác là, liệu Việt Nam có muốn làm đầu tàu hay không,” ông Phương nói.

Tuy nhiên, ông Phương cũng cho rằng, không nên coi ASEAN là một công cụ toàn năng hay duy nhất, giúp giải quyết các vấn đề ở Biển Đông.

“ASEAN quan trọng, ASEAN cần có tiếng nói, nhưng ASEAN đang bị chia rẻ trầm trọng với sự ảnh hưởng quá lớn của Trung Quốc lên một số nước thành viên. Thêm vào đó, “phương cách ASEAN” vốn yêu cầu sự đồng thuận, khiến cho các biện pháp thống nhất, hiệu quả đối phó với Trung Quốc chỉ là một giấc mơ. Bản thân tôi không đặt quá nhiều kỳ vọng đột phá trong năm Việt Nam làm chủ tịch ASEAN 2020 sắp tới,” ông Phương khẳng định.

Nguyễn Anh

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]